(Lichngaytot.com) Đức Phật quở trách loại người nào? Cùng xem đặc điểm của bị Phật quở trách sống tệ đến mức nào mà ngay cả một người nhân hậu, vị tha như Phật cũng phải chê bai.
1. Phật có quở trách người không?
Phật quở trách loại người nào? |
Đức Phật có 32 tướng tốt của bậc đại nhân và 80 vẻ đẹp tùy hình. Trong 32 tướng ấy có tướng lưỡi rộng dài. Kinh ghi: khi Phật thè lưỡi ra, lưỡi ấy như cánh hoa sen, vươn lên đến chân tóc, che kín cả khuôn mặt. Thật rộng và thật dài!
Theo Phật pháp, tướng lưỡi rộng dài là kết quả của việc giữ giới không nói dối một cách viên mãn. Ai thành tựu tướng này tuyệt đối không phạm giới không nói dối.
Giới không nói dối gồm bốn thứ: nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều và nói lời ác.
Nghĩa là người đã thành Phật không bao giờ nói lời trái pháp, càng không quở trách người. Cho nên Kinh Kim Cang dạy: “Như Lai là bậc chân ngữ, thực ngữ, như ngữ, không dối ngữ, không dị ngữ.”
Giới không nói dối gồm bốn thứ: nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều và nói lời ác.
Nghĩa là người đã thành Phật không bao giờ nói lời trái pháp, càng không quở trách người. Cho nên Kinh Kim Cang dạy: “Như Lai là bậc chân ngữ, thực ngữ, như ngữ, không dối ngữ, không dị ngữ.”
Đại Trí Độ Luận cũng nói: “Tất cả lời lành trên đời đều xuất phát từ Phật pháp, nói hay không sai sót, không gì hơn lời Phật.”
Vì thế, suốt bốn mươi chín năm thuyết pháp, Phật hầu như chỉ dùng “ái ngữ” trong bốn nhiếp pháp để giảng lý, nêu sự, từ bi bảo đệ tử nên làm gì thì có lợi ích gì, không nên làm gì thì có hại gì.
Còn đệ tử chọn làm thế nào thì tự mỗi người hiểu mà “tự giác”. Phật không bao giờ ép buộc đệ tử phải làm thế này thế kia. Ngay cả với người phạm giới, nhiều lắm Ngài chỉ quở là “người si”, tuyệt đối không có lời quở trách nhiếc quá đáng.
Còn đệ tử chọn làm thế nào thì tự mỗi người hiểu mà “tự giác”. Phật không bao giờ ép buộc đệ tử phải làm thế này thế kia. Ngay cả với người phạm giới, nhiều lắm Ngài chỉ quở là “người si”, tuyệt đối không có lời quở trách nhiếc quá đáng.
2. Phật quở trách loại người nào?
Trước khi nhập Niết-bàn, Phật thuyết bài pháp cuối cùng là Kinh Di Giáo của Phật (còn gọi Kinh Phật Thùy Bát-niết-bàn Lược Thuyết Giáo Giới). Trong kinh này, Phật rất khéo léo “quở trách” người.
Phật dạy: “Thường phải biết hổ thẹn, chớ để tạm thời buông lơi. Nếu rời bỏ hổ thẹn thì mất hết các công đức. Người có hổ thẹn thì có pháp lành. Người không hổ thẹn thì chẳng khác gì loài cầm thú!”
Ở đây, Phật để lại lời nặng nhất trong cả đời cho những người không có tâm hổ thẹn. Đúng là quở trách những kẻ không hổ thẹn: chẳng khác gì cầm thú.
3. Vì sao Phật quở trách họ?
Hổ thẹn được gọi là hai pháp trắng, trong Bách Pháp Minh Môn Luận của Duy thức được xếp vào loại tâm sở thiện. Về hổ thẹn có nhiều cách giải thích: tự xét lỗi lầm của mình mà sinh tâm xấu hổ gọi là hổ (tàm), đem tội mình đã làm ra trước mặt người khác mà thấy xấu hổ gọi là thẹn (quý).
Hổ là biết tự soi xét, nâng cao nhận thức hướng thiện, thẹn là sau khi phạm lỗi có tâm xấu hổ, sinh sợ hãi và sẵn sàng hối cải.
Hổ là biết tự trọng, rồi kính trọng thánh hiền, quý trọng pháp lành, muốn làm thiện, thẹn là quan tâm đến đạo lý, sợ người đời chê cười, sợ quy củ và pháp luật trừng phạt nên không dám làm ác. Đối với bản thân thấy có lỗi gọi là hổ, đối với người khác thấy có lỗi gọi là thẹn.
Hổ là biết tự trọng, rồi kính trọng thánh hiền, quý trọng pháp lành, muốn làm thiện, thẹn là quan tâm đến đạo lý, sợ người đời chê cười, sợ quy củ và pháp luật trừng phạt nên không dám làm ác. Đối với bản thân thấy có lỗi gọi là hổ, đối với người khác thấy có lỗi gọi là thẹn.
Ngược lại với hổ thẹn là vô hổ, vô thẹn - hai pháp nhiễm ô, được gọi là tùy phiền não trung phẩm, duy thức xếp vào tâm sở phiền não. Hai tâm sở này có mặt trong mọi tâm ác. Nghĩa là mọi hành vi ác chúng ta tạo ra đều có tâm vô hổ, vô thẹn xen vào.
4. Người bị Phật quở trách có những đặc điểm gì?
Không khởi tâm tôn kính, ngưỡng mộ thánh hiền, không thấy người hiền mà muốn học theo.
Không thích làm việc thiện.
Không nghe lời khuyên của bậc hiền minh.
Không sợ lời bàn tán, chỉ trích của đời, không sợ quy củ, pháp luật.
Đối với lỗi lầm và tội ác đã phạm không có cảm giác tội lỗi, không thấy làm ác là sai.
Mặt dày, không có tâm xấu hổ.
Vì vậy Phật quở trách loại người này chẳng khác gì cầm thú. Phật quở trách rất có trình độ, rất khéo léo và rất nghệ thuật.
Trước đó Ngài nói một loạt lợi ích của việc thường giữ tâm hổ thẹn, rồi mới dùng một câu quở trách này để nhấn mạnh tầm quan trọng của tâm hổ thẹn đối với việc làm người và tu hành, nhắc nhở đệ tử đừng đánh mất tâm hổ thẹn, kẻo trở thành loài cầm thú đội lốt người.
Trước đó Ngài nói một loạt lợi ích của việc thường giữ tâm hổ thẹn, rồi mới dùng một câu quở trách này để nhấn mạnh tầm quan trọng của tâm hổ thẹn đối với việc làm người và tu hành, nhắc nhở đệ tử đừng đánh mất tâm hổ thẹn, kẻo trở thành loài cầm thú đội lốt người.
Trong đoạn kinh này, dù Phật nói lời nặng, ta không cảm nhận được chút cảm xúc xấu nào, chỉ thấy được tấm lòng ân cần dạy bảo và lòng từ bi vô hạn của bậc tôn trưởng lúc lâm chung đối với đệ tử.
Cho nên bậc cổ đức mới nói: “Đọc Xuất Sư Biểu của Khổng Minh mà không rơi lệ thì người ấy tất không trung, đọc Kinh Di Giáo của Phật mà không rơi lệ thì tất không phải là Phật tử.”
Cho nên bậc cổ đức mới nói: “Đọc Xuất Sư Biểu của Khổng Minh mà không rơi lệ thì người ấy tất không trung, đọc Kinh Di Giáo của Phật mà không rơi lệ thì tất không phải là Phật tử.”
Muốn khỏi bị Phật quở trách, nhất định phải có tâm hổ thẹn. Vì có hổ thẹn mới biết xấu hổ, biết kính sợ, thúc đẩy ta tự soi xét, cố gắng hướng thiện, không làm ác, sửa lỗi đổi mới, từ đó sinh ra động lực tiến bộ và tự nâng cao mình.
Nho gia cũng nói: “Biết xấu hổ gần với dũng”. Có tâm hổ thẹn, có cảm giác xấu hổ, mới có thể tinh tấn dũng mãnh trên đường học Phật!
Nho gia cũng nói: “Biết xấu hổ gần với dũng”. Có tâm hổ thẹn, có cảm giác xấu hổ, mới có thể tinh tấn dũng mãnh trên đường học Phật!
Mời bạn tham khảo thêm tin: