(Lichngaytot.com) Có thể nhiều người không tin vào câu chuyện Đức Phật dạy người ngốc nhất thế gian chỉ bằng một ngọn cỏ, đọc bài viết này xong bạn sẽ thấy sự thần kỳ đó.
1. Ai là người ngốc nhất thế gian?
Đức Phật dạy người ngốc nhất thế gian |
Châu-lợi-bàn-đặc là người làm nghề quét rác. Chỉ học thuộc bốn chữ "quét sạch bụi bẩn" mà mất tận ba tháng, cứ nhớ vế trước lại quên vế sau, nhớ vế sau lại quên vế trước.
Đức Phật bèn bảo ông cứ một lòng quét rác. Quét suốt một năm, bỗng nhiên ông đại ngộ. Câu chuyện này quá nổi tiếng.
Trong kinh Phật Thuyết A-Di-Đà, có 16 vị đại A-la-hán thì Châu-lợi-bàn-đặc đứng ở hàng cuối. Các thầy giảng kinh Tịnh Độ rất thích lấy ông ra làm ví dụ - bạn thấy đấy, người ngốc nghếch cũng có thể thành công.
Nhưng còn Bàn-đặc là ai?
Bàn-đặc lại càng ngốc hơn cả Châu-lợi-bàn-đặc. Châu-lợi-bàn-đặc ít ra còn quét được rác, còn Bàn-đặc đến cái chổi cũng cầm không vững. Chổi quét sang trái, bụi bay sang phải, quét sang phải, bụi lại bay ngược về trái. Quét một hồi, mặt đất còn bẩn hơn lúc chưa quét.
Kinh Tăng Nhất A-hàm, quyển số 11 có nhắc đến ông. Rất ngắn, chưa đầy ba trăm chữ. Một người đến một câu niệm Phật còn không nhớ nổi, bạn còn mong kinh điển viết về ông được bao nhiêu?
2. Một người ngốc đến mức tên mình cũng chẳng nhớ
Bàn-đặc sinh ra trong một gia đình quý tộc Bà-la-môn ở thành Xá-vệ. Gia đình Bà-la-môn coi trọng điều gì nhất? Chính là học vấn, trí nhớ và tài đọc kinh. Khi cúng tế, cả một bộ kinh chú phải đọc thuộc lòng không sai một chữ. Niệm sai một chữ là lễ cúng coi như hỏng.
Còn Bàn-đặc thì sao? Lên 20 tuổi, đến tên của chính mình ông cũng không nhớ nổi.
Cha ông tên là "Đề-xá", mẹ tên là "Sô-ma-đề". Cha dạy ông đọc tên "Bàn-đặc", ông đọc thành "Bàn-bàn". Dạy lại, ông đọc thành "Đặc-đặc". Hai tiếng ấy thế nào cũng không sao ghép lại được với nhau.
Thực ra, y học hiện đại có thể giải thích tình trạng của ông là chậm phát triển trí tuệ, hoặc một dạng mất trí nhớ nào đó. Nhưng ở Ấn Độ của hai nghìn năm trăm năm trước, chẳng ai biết đến những khái niệm này. Con trai nhà Bà-la-môn mà ngốc nghếch, đó là tất cả những gì người ta hiểu.
Cha ông hết lòng kiên nhẫn. Dạy suốt 3 năm, Bàn-đặc vẫn không nói rõ được tên mình. Người cha hoàn toàn tuyệt vọng. Truyền thống của dòng họ, sợ rằng đến đời ông là đứt đoạn. Ông đuổi Bàn-đặc ra khỏi nhà.
Bàn-đặc lang thang trên đường phố thành Xá-vệ. Không người thân, không bạn bè, không biết đi đâu về đâu. Đói quá, ông ngồi xổm cạnh đống rác bên đường, có ai tốt bụng cho cơm thừa thì ăn, không thì chịu đói. Đói hai ngày là chuyện thường, đói ba ngày cũng có.
Thành Xá-vệ là nơi Đức Phật ở lại lâu nhất. Tịnh xá Kỳ-viên nằm ngay ngoài thành. Mỗi buổi sáng, Đức Phật cùng các thầy Tỳ-kheo đi vào thành khất thực qua rất nhiều con hẻm. Con hẻm nơi Bàn-đặc ngồi xổm, cuối cùng cũng chờ được đoàn người ấy đi qua vào một ngày nọ.
Nhưng Bàn-đặc chẳng biết đó là ai. Ông thậm chí còn không hiểu "Phật" nghĩa là gì. Ông chỉ thấy một nhóm đàn ông đầu trọc mặc áo vàng từ xa đi tới. Người đi đầu tiên đi chân đất, lòng bàn chân dính bùn, bước đi rất chậm. Chẳng hiểu sao, Bàn-đặc cảm thấy lòng mình bỗng trở nên yên ắng.
Những ngày đó thành Xá-vệ ồn ào lắm, đâu đâu cũng là tiếng hàng quán rao bán, tiếng xe bò kẽo kẹt, tiếng chó sủa, trẻ con khóc. Thế nhưng khi người này bước tới, những âm thanh ấy dường như trôi đi mất.
Những ngày đó thành Xá-vệ ồn ào lắm, đâu đâu cũng là tiếng hàng quán rao bán, tiếng xe bò kẽo kẹt, tiếng chó sủa, trẻ con khóc. Thế nhưng khi người này bước tới, những âm thanh ấy dường như trôi đi mất.
3. Đức Phật khai sáng cho người ngốc nhất thế gian
Đức Phật dừng lại ngay trước mặt ông.
"Con là con nhà ai?"
Bàn-đặc ngẩng đầu nhìn Đức Phật. Đó là gương mặt mà ông chưa từng thấy bao giờ. Không hiểu sao, lồng ngực ông bỗng thấy nhẹ nhõm.
"...Con không biết."
"Con tên gì?"
"...Con không biết."
Thầy Xá-lợi-phất đứng sau Đức Phật liền kéo nhẹ tà áo. Thầy Xá-lợi-phất là người thông minh nhất, nhìn người rất chuẩn.
Thầy cúi đầu ghé tai Đức Phật nói nhỏ: Người này không được đâu, anh ta u mê từ năm trăm kiếp trước, không dạy nổi đâu. Con đã quan sát nhiều người, đời trước anh ta chưa từng gieo chút nhân thiện nào cả.
Thầy cúi đầu ghé tai Đức Phật nói nhỏ: Người này không được đâu, anh ta u mê từ năm trăm kiếp trước, không dạy nổi đâu. Con đã quan sát nhiều người, đời trước anh ta chưa từng gieo chút nhân thiện nào cả.
Đức Phật không để ý đến lời thầy.
4. Một ngọn cỏ cứu rỗi sự ngu dốt của 1 người
Đức Phật cúi người, nhổ một cọng cỏ mọc lên từ kẽ đất bên đường. Không phải hoa thơm cỏ lạ gì, chỉ là cỏ đuôi chó mọc đầy đường ở thành Xá-vệ. Một cọng cỏ mảnh mai, phần đầu có chùm bông xù xì đang rung rinh trong gió.
Đức Phật đưa cọng cỏ đến trước mặt Bàn-đặc.
"Đây là gì?"
Bàn-đặc nhìn cọng cỏ ấy. Nhìn rất lâu. Ông không biết chữ, nhưng ông nhận ra cỏ. Những ngày đi ăn xin bên đống rác, thứ duy nhất ông chăm chú ngắm nhìn mỗi ngày chính là cỏ dưới đất. Màu xanh của cỏ. Những đường gân trên lá cỏ.
"Cỏ." Ông đáp.
Đức Phật gật đầu. Ngài đặt cọng cỏ vào tay Bàn-đặc nói: "Cầm lấy." Rồi bước đi.
Các thầy Tỳ-kheo nối đuôi nhau đi theo sau Đức Phật. Vài vị tỏ vẻ khó hiểu. Thầy Xá-lợi-phất đi cuối cùng, ngoảnh đầu nhìn Bàn-đặc một cái. Bàn-đặc ngồi ở góc tường, tay nắm chặt cọng cỏ, giống như đang cầm thứ quý giá nhất trên đời.
Đêm hôm đó, ở tịnh xá, thầy Xá-lợi-phất không nhịn được bèn hỏi Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, Ngài cho kẻ ngốc đó một cọng cỏ thì để làm gì?"
Đức Phật đáp: "Anh ta nhận ra cỏ."
"Nhận ra cỏ thì sao chứ?"
"Thầy đọc thuộc muôn vàn kinh điển. Thầy có nhận ra cỏ không?"
Thầy Xá-lợi-phất im lặng không nói gì nữa.
Hôm sau, Đức Phật lại đi qua con hẻm đó. Bàn-đặc vẫn ở chỗ cũ. Thấy Đức Phật đến, ông đứng phắt dậy. Trong tay vẫn nắm chặt cọng cỏ từ hôm qua. Cọng cỏ đã héo úa, nhưng tay ông vẫn cầm rất chặt.
Đức Phật lại nhổ thêm một cọng cỏ tươi từ dưới đất lên, y hệt như loại cỏ ngày hôm qua.
"Đây là gì?"
"Cỏ!" Lần này Bàn-đặc đáp nhanh hơn hôm qua. Thú thật, ông thấy rất vui. Người này đến thăm ông, lại còn nói những câu y hệt như hôm trước. Cảm giác này, từ nhỏ đến lớn ông chưa từng có.
"Tốt." Đức Phật ngồi xổm xuống. Ngài chỉ vào lớp đất màu nâu ở góc tường: "Đây là gì?"
"...Đất."
"Đúng vậy. Đất. Cỏ từ đâu mà ra?"
Bàn-đặc suy nghĩ rất lâu. Bạn đoán xem, Đức Phật cứ thế ngồi xổm kiên nhẫn chờ đợi. Mặt trời từ ngọn cây phía đông lên đến đỉnh đầu, rồi lại nghiêng về phía tây. Thầy Xá-lợi-phất đứng đằng sau sốt ruột, định nói gì đó thì bị ánh mắt của Đức Phật ngăn lại.
"...Từ trong đất mọc ra." Cuối cùng Bàn-đặc cũng nói được. Chỉ có bốn chữ thôi. Nhưng với ông, đó là một câu hoàn chỉnh. Đã hai mươi năm rồi, đây là lần đầu tiên ông nói được một câu trọn vẹn.
Trọn một buổi chiều
"Cỏ mọc từ đất ra. Rồi sao nữa?"
Bàn-đặc nhìn cọng cỏ héo trong tay: "...Chết."
"Chết rồi thì thế nào?"
"...Lại quay về với đất."
Đức Phật chỉ vào Bàn-đặc: "Con hãy nhìn lại mình xem. Con từ đâu mà đến?"
Bàn-đặc cúi đầu nhìn chính mình. Bàn tay. Cái bụng. Đôi chân. Các ngón chân. Ông không biết phải nói thế nào.
Đức Phật vẫn kiên nhẫn đợi.
"Từ trong bụng mẹ mà ra." Cuối cùng ông cũng rặn ra được câu trả lời.
"Thế mẹ con đâu?"
"Không biết." Giọng ông chùng xuống. Từ khi bị đuổi khỏi nhà, ông chưa từng gặp lại mẹ nữa.
"Thế mẹ của mẹ con đâu?"
Bàn-đặc im lặng. Mẹ của mẹ ông là ai, chưa bao giờ ông nghĩ đến chuyện đó. Nhưng bỗng nhiên ông hiểu ra một điều: "Cũng giống như vậy."
"Cuối cùng thì sao?"
"...Lại quay về với đất."
Đức Phật đứng dậy, đặt tay lên đỉnh đầu Bàn-đặc: "Đây chính là Phật pháp. Con đã hiểu rồi."
Ngày hôm đó, Bàn-đặc đã đạt được quả vị tu hành đầu tiên.
Không phải kiểu bừng ngộ hoành tráng như trong kinh điển hay kể - hào quang rực rỡ, đất trời rung chuyển. Không hề có chuyện đó. Kinh sách chỉ ghi lại bảy chữ: "Liền tại chỗ ngồi thấy được chân lý".
Chỉ vài chữ ngắn gọn ấy là đủ bước vào hàng ngũ người tu đạo, thấy rõ sự thật và dứt bỏ phiền não. Bàn-đặc đến chữ "pháp" viết thế nào còn chẳng biết, nhưng cọng cỏ ấy đã cho ông thấy toàn bộ sự thật của cuộc đời.
Chỉ vài chữ ngắn gọn ấy là đủ bước vào hàng ngũ người tu đạo, thấy rõ sự thật và dứt bỏ phiền não. Bàn-đặc đến chữ "pháp" viết thế nào còn chẳng biết, nhưng cọng cỏ ấy đã cho ông thấy toàn bộ sự thật của cuộc đời.
Nói thật lòng, sự giác ngộ của Bàn-đặc còn triệt để hơn cả Châu-lợi-bàn-đặc.
Châu-lợi-bàn-đặc tuy ngốc, nhưng ít ra vẫn có bốn chữ "quét sạch bụi bẩn". Bốn chữ đó là một con đường. Con đường dẫu hẹp nhưng vẫn là đường. Có đường thì có hướng đi, có hướng đi thì có bước chân. Cứ đi chậm rãi, thế nào cũng đến đích.
Còn Bàn-đặc thì sao? Bàn-đặc chẳng có con đường nào cả.
Ông đến một con đường bốn chữ cũng không có. Thứ mà Đức Phật đưa cho ông chỉ là một vật - cọng cỏ. Không phải lý thuyết, không phải chữ nghĩa, không phải phương pháp tu hành gì cả.
Chỉ là một món đồ, một thứ mà từ trước đến nay ông vẫn luôn nhìn thấy. Việc Đức Phật làm rất đơn giản đó là giúp ông nhìn thật rõ thứ mà ông vẫn hay nhìn thấy, nhưng trước giờ chưa từng thực sự để tâm.
Chỉ là một món đồ, một thứ mà từ trước đến nay ông vẫn luôn nhìn thấy. Việc Đức Phật làm rất đơn giản đó là giúp ông nhìn thật rõ thứ mà ông vẫn hay nhìn thấy, nhưng trước giờ chưa từng thực sự để tâm.
Bạn hãy nghĩ về điều này xem.
Một người cả đời lúc nào chẳng nhìn thấy cỏ. Cỏ mọc. Cỏ héo. Cỏ lại mọc. Cỏ lại héo. Nhưng ông ta chưa từng nghĩ: Giữa cỏ và "tôi" có mối quan hệ gì?
Việc Đức Phật làm, chính là nối lại sợi dây bị đứt trong đầu ông. Khi đã kết nối được rồi thì cái tôi ích kỷ tự nhiên chùng xuống. Bàn-đặc hoàn toàn không biết những thuật ngữ chuyên môn, nhưng tâm trí ông quả thật đã được cởi bỏ ngay lúc đó.
Việc Đức Phật làm, chính là nối lại sợi dây bị đứt trong đầu ông. Khi đã kết nối được rồi thì cái tôi ích kỷ tự nhiên chùng xuống. Bàn-đặc hoàn toàn không biết những thuật ngữ chuyên môn, nhưng tâm trí ông quả thật đã được cởi bỏ ngay lúc đó.
Dù trong đầu không hề có khái niệm "tu hành", nhưng trạng thái của ông lúc ấy lại cao hơn rất nhiều người tu lâu năm. Tôi từng gặp quá nhiều người tu tập, ngày nào cũng ngồi thiền mấy tiếng, tụng kinh không sai một chữ, nhưng cái "tôi đang ngồi thiền" và cái "tôi đang tụng kinh" đó thì buông thế nào cũng không buông được.
Càng tu thì cái tôi lại càng lớn. Sau này Thiền tông hay nói đến việc "thấu hiểu bản tính", điều đáng sợ nhất là lại biến cái đó thành một sự dính mắc. Bàn-đặc thì chẳng có khái niệm gì trong đầu cả, nên ông chẳng bị dính mắc vào đâu hết.
Càng tu thì cái tôi lại càng lớn. Sau này Thiền tông hay nói đến việc "thấu hiểu bản tính", điều đáng sợ nhất là lại biến cái đó thành một sự dính mắc. Bàn-đặc thì chẳng có khái niệm gì trong đầu cả, nên ông chẳng bị dính mắc vào đâu hết.
5. Cỏ chỉ là cỏ
Sau khi Bàn-đặc ngộ đạo, Đức Phật đã làm một việc khiến tất cả mọi người đều ngạc nhiên đến rớt hàm.
Đức Phật bảo Bàn-đặc đi giảng dạy cho mọi người.
Thầy Xá-lợi-phất sốt ruột hỏi: "Bạch Thế Tôn, đến nói năng anh ta còn không rõ, thì làm sao dạy người khác?"
Đức Phật bảo: "Thầy cứ đi xem đi."
Bàn-đặc đi đến một ngôi làng tên là Na-lợi-già. Ngay đầu làng có một vị trưởng giả giàu có tên là Cù-xá. Cù-xá là người rất kiêu ngạo, đọc vô số sách vở, kiến thức đầy bụng, tranh luận chưa từng thua ai và luôn coi thường những người đi tu. Nhìn thấy Bàn-đặc đi tới - một chú tiểu gầy gò, ánh mắt ngơ ngác - Cù-xá phì cười.
"Ngươi muốn giảng đạo cho ta à? Thấy nói trước một câu tiếng Phạn cho ta nghe xem nào?"
Bàn-đặc ngồi xổm xuống. Ông nhổ một cọng cỏ ở kẽ đất lên.
"Ngươi nhìn thấy gì?"
Nụ cười của Cù-xá cứng đờ lại. Câu hỏi quái quỷ gì thế này? Nhưng khi nhìn vào mắt chú tiểu, không hiểu sao, tim ông ta bỗng chùng xuống. Đôi mắt ấy không thông minh, không trong sáng, thậm chí còn hơi đục.
Nhưng trong đôi mắt ấy hoàn toàn không có ý ta muốn thắng ngươi. Tệ hơn nữa, trong đó cũng chẳng có chút nào gọi là "ta thông minh hơn ngươi". Hoàn toàn trống rỗng.
Nhưng trong đôi mắt ấy hoàn toàn không có ý ta muốn thắng ngươi. Tệ hơn nữa, trong đó cũng chẳng có chút nào gọi là "ta thông minh hơn ngươi". Hoàn toàn trống rỗng.
"Đây là... cỏ." Giọng Cù-xá bỗng bớt hung hổ đi.
"Cỏ từ đâu mà ra?"
"Từ đất mà ra."
"Rồi lại về đâu?"
Cù-xá há miệng, không trả lời được ngay. Một người đọc sách thánh hiền nhiều năm, lại bị một kẻ ngốc hỏi đến á khẩu. Ông ta ngẩng đầu nhìn Bàn-đặc, rồi lại cúi đầu nhìn cọng cỏ dưới đất.
Hôm đó thành Xá-vệ có mưa lất phất, lúc tôi đọc được câu chuyện này thì bên ngoài trời cũng đang mưa phùn. Cù-xá cứ đứng dưới mưa như thế rất lâu.
Sau này ông ta kể lại rằng, ông ta đã đọc bao nhiêu sách, tranh luận với bao nhiêu bậc thầy, nhưng chưa từng có ai bắt ông ta phải nhìn ngắm một cọng cỏ.
Sau này ông ta kể lại rằng, ông ta đã đọc bao nhiêu sách, tranh luận với bao nhiêu bậc thầy, nhưng chưa từng có ai bắt ông ta phải nhìn ngắm một cọng cỏ.
Ba ngày sau, Cù-xá xuất gia. Không theo thầy Xá-lợi-phất, không theo thầy Mục-kiền-liên, mà đi theo Bàn-đặc. Một người đến tên mình còn nhớ không nổi, cuối cùng lại trở thành thầy của người khác.
Bàn-đặc sống rất thọ. Những năm cuối đời, ông ở trong một túp lều tranh, xung quanh mọc đầy cỏ đuôi chó. Mỗi ngày ông đi xách nước, quét nhà, nhổ cỏ, ngắm cỏ rồi vứt cỏ. Không viết sách, không lên bục giảng đạo, không bàn những lý lẽ sâu xa.
Có người đi đường xa đến hỏi ông thế nào là "không", ông nhổ một cọng cỏ đưa lên. Có người hỏi thế nào là "có", ông chỉ tay xuống đất. Có người hỏi vòng đời luân hồi là gì, ông lại cắm cọng cỏ đó trở lại xuống đất.
Có người đi đường xa đến hỏi ông thế nào là "không", ông nhổ một cọng cỏ đưa lên. Có người hỏi thế nào là "có", ông chỉ tay xuống đất. Có người hỏi vòng đời luân hồi là gì, ông lại cắm cọng cỏ đó trở lại xuống đất.
Thực ra, có lẽ ông chẳng hiểu mấy từ ngữ to tát ấy. Và ông cũng chẳng muốn hiểu làm gì. Thứ duy nhất ông hiểu, chính là một cọng cỏ.
Sau này, có một năm nọ xuất hiện một vị đại sư rất nổi tiếng, đi khắp nơi giảng kinh cho hàng ngàn người nghe. Ông đặc biệt cất công đến tìm Bàn-đặc để tranh luận.
Bàn-đặc mời ông uống một bát nước mát, rồi dẫn ra bãi cỏ trước cửa ngồi. Vừa gặp, vị đại sư hỏi ngay câu đầu tiên: "Xin hỏi Tôn giả, bản chất thật sự của vạn vật là gì?"
Bàn-đặc mời ông uống một bát nước mát, rồi dẫn ra bãi cỏ trước cửa ngồi. Vừa gặp, vị đại sư hỏi ngay câu đầu tiên: "Xin hỏi Tôn giả, bản chất thật sự của vạn vật là gì?"
Bàn-đặc nhổ một cọng cỏ đưa cho ông ta.
Vị đại sư tưởng Bàn-đặc đang đùa cợt qua quýt, bèn hỏi tiếp: "Sự vô minh từ đâu mà có?"
Bàn-đặc chỉ vào phần gốc cỏ đã mục một nửa ở dưới đất.
Vị đại sư ngẩn người ra một lúc lâu, rồi bỗng quỳ sụp xuống lạy ba lạy. Không phải vì đã ngộ ra điều gì lớn lao, mà vì quá chấn động. Vị sư già này chẳng nói một câu nào, nhưng lại trả lời được tất cả. Sau này vị đại sư kể lại với mọi người rằng, ông giảng kinh suốt mấy chục năm, cũng không bằng nửa tiếng đồng hồ ngồi trên bãi cỏ hôm đó.
Lúc Bàn-đặc mất đi rất yên bình. Các thầy Tỳ-kheo hỏa táng cho ông, trong tro cốt thu được vài hạt xá-lợi sáng lấp lánh - bởi vì dù sao ông cũng đã đắc đạo.
Nhưng điều kỳ lạ nhất là, trong đống tro tàn, người ta tìm thấy một cọng cỏ. Không phải cọng cỏ biến thành xá-lợi. Mà đúng là một cọng cỏ đuôi chó còn sống. Xanh mướt, giống như vừa mới mọc lên từ lớp đất mùa xuân.
Nhưng điều kỳ lạ nhất là, trong đống tro tàn, người ta tìm thấy một cọng cỏ. Không phải cọng cỏ biến thành xá-lợi. Mà đúng là một cọng cỏ đuôi chó còn sống. Xanh mướt, giống như vừa mới mọc lên từ lớp đất mùa xuân.
Có đệ tử vô cùng kích động: Đây là phép lạ! Tôn giả Bàn-đặc hiển linh rồi! Một vị thầy lớn tuổi đi tới nhìn, rồi nhổ cọng cỏ đó lên. Trên rễ cỏ vẫn còn dính chút tro. "Cả đời ngài ấy chỉ dạy chúng ta một chuyện duy nhất: Cỏ chính là cỏ."