(Lichngaytot.com) Cùng khám phá Đạo Mẫu là gì để chúng ta hiểu rằng điều này không hề mê tín dị đoan như mọi người vẫn nghĩ mà nơi lòng yêu nước hóa thành tâm linh đại chúng, cực kỳ thiêng liêng và đáng trân trọng.
1. Đạo Mẫu là gì?
![]() |
Theo đó, người xưa cho rằng Trời là cha - người đàn ông là đấng hóa sinh tạo nên sự xoay vần của vũ trụ, tạo nên sự chuyển động về không gian thời gian. Đất là mẹ - người phụ nữ luôn thu nhận mọi nguồn sinh lực từ Trời (người cha) sinh sôi ra vạn vật muôn loài.
Vì thế Việt từ xa xưa vô cùng coi trọng Mẹ Đất, các hiện tượng siêu nhiên huyền bí, kết hợp với niềm tin và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, hình thành nên tín ngưỡng Tam phủ và Tứ phủ (mang tính thuần Việt) với 3 vị nữ thần chính trông coi 3 cõi của tự nhiên:
- Cõi Trời - Mẫu Thượng Thiên.
- Cõi Đất - Mẫu Địa.
- Núi rừng - Mẫu Thượng Ngàn.
- Cõi sông bể - Mẫu Thoải.
Tương ứng với các cõi ấy là các phủ: Thiên, Nhạc, Địa, Thủy.
Đạo Mẫu không mang màu sắc tôn giáo mà là tín ngưỡng bản địa lâu đời, tôn thờ các vị nữ thần, Thánh Mẫu có quyền năng sinh sôi, che chở cho con người.
Không hề được sáng lập bởi một vị giáo chủ cụ thể nào thế nên trong các chế độ cũ, việc thờ thánh Mẫu chỉ được coi như một tín ngưỡng bên lề và nhờ vậy mà dễ dàng thâm nhập vào mọi nơi, thậm chí vào cả các tôn giáo lớn.
Đạo Mẫu không mang màu sắc tôn giáo mà là tín ngưỡng bản địa lâu đời, tôn thờ các vị nữ thần, Thánh Mẫu có quyền năng sinh sôi, che chở cho con người.
Không hề được sáng lập bởi một vị giáo chủ cụ thể nào thế nên trong các chế độ cũ, việc thờ thánh Mẫu chỉ được coi như một tín ngưỡng bên lề và nhờ vậy mà dễ dàng thâm nhập vào mọi nơi, thậm chí vào cả các tôn giáo lớn.
2. Các đặc điểm chính của Đạo Mẫu

2.1 Nguồn gốc
![]() |
Đạo Mẫu là tín ngưỡng thờ Nữ Thần - Thánh Mẫu lâu đời nhất và đặc trưng nhất của người Việt Nam, luôn giữ được nhiều yếu tố về đạo và đức đậm đà bản sắc dân tộc.
Trong thời gian dài trước đây, tín ngưỡng thờ Mẫu đã bị xem nhẹ, hoặc bị cho là mê tín dị đoan, đặt nó ra ngoài không gian tư tưởng chính thống, thế nhưng nhờ vào sự linh hoạt của mình mà Đạo Mẫu vẫn sống tới tận ngày nay.
Thực tế là mọi tôn giáo lớn đều được du nhập từ bên ngoài vào, chỉ riêng tục thờ Mẫu - đã tồn tại suốt cả mấy nghìn năm trước, mới thực sự là một trục chính của tín ngưỡng dân gian của Việt Nam.
Nguồn gốc Đạo Mẫu là từ niềm tin yêu và sự kính trọng đặc biệt của người Việt dành cho phụ nữ, với khả năng sinh sản, nuôi dưỡng và phát triển. Ngay cả giai đoạn phong kiến trọng nam khinh nữ thì tư tưởng thờ Mẫu vẫn luôn song hành.
Cho tới ngày nay, Đạo Mẫu đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, để mong tìm về một khía cạnh thuộc cốt lõi khởi nguyên mang vẻ đẹp tâm linh của nông dân Việt, đậm yếu tố thuộc bản sắc văn hóa dân tộc.
Cho tới ngày nay, Đạo Mẫu đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, để mong tìm về một khía cạnh thuộc cốt lõi khởi nguyên mang vẻ đẹp tâm linh của nông dân Việt, đậm yếu tố thuộc bản sắc văn hóa dân tộc.
Đạo Mẫu ra đời từ văn hóa nông nghiệp lúa nước, thờ Nữ thần, Mẫu thần (Quốc mẫu Âu Cơ, Mẫu Tây Thiên, Mẫu Thượng Ngàn). Cho tới thế kỷ XV-XVI, Đạo Mẫu định hình rõ nét với sự tôn thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, kết hợp với các nghi lễ đạo giáo.
Từ thế kỷ XV, Đạo Mẫu Việt Nam được ra đời. Và ngày giáng thế đầu tiên của Thánh mẫu Liễu Hạnh là năm 1434, tính đến nay đã hơn 600 năm trôi qua.
Từ thế kỷ XV, Đạo Mẫu Việt Nam được ra đời. Và ngày giáng thế đầu tiên của Thánh mẫu Liễu Hạnh là năm 1434, tính đến nay đã hơn 600 năm trôi qua.
Theo truyền thuyết, mẫu Liễu Hạnh có bố là Năng Vỹ, mẹ là Đào Liễu, đều trên 40 tuổi mà chưa con. Ông bà đi cầu tự ở chùa Tây Thiên được ban điềm lành mà sinh ra Mẫu, đặt tên Năng Thị Tiêu.
Lớn lên, Mẫu Liễu Hạnh dũng mãnh, tài lược hơn người, đã giúp vua Hùng đánh giặc đạt nhiều chiến công. Sau lễ mừng thọ mẹ cha (ngoài 80 tuổi), ngày 15 tháng 02, Mẫu được gọi về trời.
Nhớ ơn bà, nên vua đã phong bà “Tam Đảo Sơn Trụ Quốc Mẫu Đại Vương, Đệ Nhất Thượng Đẳng Phúc Thần”.
Chuyện giáng sinh của Mẫu Liễu Hạnh được cho là diễn ra 3 lần và luôn gây ra sự chú ý đặc biệt khi bà luôn gắn với hình ảnh người phụ nữ mạnh mẽ, xem việc giúp đỡ những người xung quanh mình là nhiệm vụ tối thượng trong thời xã hội rối ren.
Có thể nói, Mẫu Liễu Hạnh là một trong Tứ bất tử, họ là những người sinh ra trong thời xã hội rối ren, sự xuất hiện của họ như là một chốn nương tựa cho người dân cơ cực về mặt tâm linh.
Lớn lên, Mẫu Liễu Hạnh dũng mãnh, tài lược hơn người, đã giúp vua Hùng đánh giặc đạt nhiều chiến công. Sau lễ mừng thọ mẹ cha (ngoài 80 tuổi), ngày 15 tháng 02, Mẫu được gọi về trời.
Nhớ ơn bà, nên vua đã phong bà “Tam Đảo Sơn Trụ Quốc Mẫu Đại Vương, Đệ Nhất Thượng Đẳng Phúc Thần”.
Chuyện giáng sinh của Mẫu Liễu Hạnh được cho là diễn ra 3 lần và luôn gây ra sự chú ý đặc biệt khi bà luôn gắn với hình ảnh người phụ nữ mạnh mẽ, xem việc giúp đỡ những người xung quanh mình là nhiệm vụ tối thượng trong thời xã hội rối ren.
Có thể nói, Mẫu Liễu Hạnh là một trong Tứ bất tử, họ là những người sinh ra trong thời xã hội rối ren, sự xuất hiện của họ như là một chốn nương tựa cho người dân cơ cực về mặt tâm linh.
2.2 Hệ thống thờ tự
Về khía cạnh điện thờ Thánh Mẫu, vua Lê có công lao lớn nhất khi kết hợp tục thờ Mẫu của người miền xuôi và tục Sơn Trang của người miền núi. Trong đó, Thánh Mẫu Liễu Hạnh là thần chủ của đạo mẫu của người đồng bằng và Mẫu Thượng Ngàn là chủ sơn trang của người miền núi.
Bà Chúa Liễu Hạnh được suy tôn là Thánh Mẫu tối cao, được thờ ở chính giữa trong Tam tòa Thánh Mẫu.
Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam có một hệ thống thần điện đa thần ( khoảng 60 vị thánh) nhưng chịu sự bao trùm của Thánh Mẫu, trong đó Thánh Mẫu Liễu Hạnh chiếm vị trí thần chủ trong điện thần Đạo Mẫu dù xuất hiện muộn trong hệ thống điện thần (xuất hiện ở thế kỷ XV - XVI).
- Thờ Tam phủ: Thiên (Trời), Địa (Đất), Thoải (Nước).
- Thờ Tứ phủ: Thiên (Trời), Địa (Đất), Thoải (Nước), Nhạc (Rừng).
- Thần chủ: Thánh Mẫu Liễu Hạnh là vị thần cao nhất, thường được thờ tại các Phủ Tây Hồ, Phủ Dầy.
Nếu không kể đến Ngọc Hoàng thì ba vị Thánh Mẫu là ba vị Thánh tối cao nhất của đạo Mẫu. Khi hầu đồng người ta phải thỉnh ba vị Thánh Mẫu trước tiên rồi mới đến các vị khác, tuy nhiên khi thỉnh Mẫu người hầu đồng không được mở khăn phủ diện mà chỉ đảo bóng rồi xa giá, đó là quy định không ai được làm trái, và sau giá Mẫu, từ hàng Trần Triều trở đi mới được mở khăn hầu đồng.
Theo tín ngưỡng cổ thì ba giá Mẫu hóa thân vào ba giá Chầu Bà từ Chầu Đệ Nhất đến Chầu Đệ Tam, nên coi như Ba giá Chầu Bà là hóa thân của Ba giá Mẫu.
Ba giá Mẫu trong Tứ Phủ gồm:
- Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên: Cửu Trùng Thanh Vân Công Chúa hay chính là Công Chúa Liễu Hạnh. Đền thờ Mẫu Liễu lớn nhất là Phủ Dày, Vụ Bản, Nam Định (Mở hội ngày 3/3 âm lịch), tương truyền là nơi Mẫu hạ trần với các đền phủ như Phủ Chính, Phủ Công Đồng, Phủ Bóng, ngoài ra còn có Đền Sòng ở Thanh Hoá, Phủ Tây Hồ ở Hà Nội.
- Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn: Đông Cuông Công Chúa. Tương truyền là vị Thánh Mẫu cai quản Thượng Ngàn (rừng núi). Đền thờ chính Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn là Đền Đông Cuông, Tuần Quán thuộc tỉnh Yên Bái.
- Mẫu Đệ Tam Thoải Cung: Xích Lân Long Nữ. Tương truyền là vị Thánh Mẫu cai quản các sông suối, biển, các mạch nước trên đất Nam Việt.
![]() |
2.3 Thực hành tâm linh
Việc thờ Mẫu ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa dân gian và nghệ thuật của người Việt và các lễ hội như Lễ Hội Phủ Giầy, Lễ Hội Chùa Hương không chỉ là những dịp tôn vinh các vị Mẫu mà còn là cơ hội để người dân thể hiện lòng tôn kính, đoàn kết cộng đồng và giữ gìn di sản văn hóa.
Nét đặc trưng trong tín ngưỡng thờ Mẫu là nghi thức Hầu đồng (Lên đồng) cùng với kết hợp với âm nhạc hát văn, là hình thức diễn xướng tâm linh để kết nối con người với thần linh.
Nét đặc trưng trong tín ngưỡng thờ Mẫu là nghi thức Hầu đồng (Lên đồng) cùng với kết hợp với âm nhạc hát văn, là hình thức diễn xướng tâm linh để kết nối con người với thần linh.
Nghi lễ Hầu đồng là nghi thức tâm linh cốt lõi, người hầu đồng (thanh đồng) múa các điệu múa đặc trưng của từng vị thánh để xin sức khỏe, tài lộc. Những yếu tố này đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần người Việt.
Khi hầu đồng người ta phải thỉnh ba vị Thánh Mẫu trước tiên rồi mới đến các vị khác, tuy nhiên khi thỉnh Mẫu người hầu đồng không được mở khăn phủ diện mà chỉ đảo bóng rồi xa giá, đó là quy định không ai được làm trái, và sau giá Mẫu, từ hàng Trần Triều trở đi mới được mở khăn hầu đồng.
3. Giá trị lớn lao của Đạo Mẫu
Năm 2016, "Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt" được UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc) công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Đây là dấu mốc quan trọng, thừa nhận chính thức những đóng góp của Đạo Mẫu vào tiến trình lịch sử văn hóa của Việt Nam.
3.1 Tôn vinh phụ nữ
Vượt qua giai đoạn nguyên thủy cho đến giai đoạn thờ thần linh thì ngay từ đầu đã ra đời một đối tượng thờ đáng quan tâm nhất là người mẹ. Đạo Mẫu đã thể hiện vai trò cao cả của người mẹ, người phụ nữ trong xã hội.
Đó còn là "trường năng lượng Mẹ" cùng vai trò của người phụ nữ đã quyết định tới sự tồn tại của gia đình và cộng đồng trong tín ngưỡng của người Việt. Đạo Mẫu cũng chính là sự tôn sùng, là sức mạnh để bảo vệ đời sống tâm hồn của người phụ nữ trong gia đình.
Và bởi không có phụ nữ thì sẽ chẳng có bừa ăn ngon, có người quán xuyến gia đình, quản lý tiền bạc,... khi người đàn ông xa nhà hái lượm hay đánh giặc,... Người phụ nữ Việt Nam luôn là người nuôi nấng, giáo dục con cái, quản lý các công việc gia đình. Mọi công việc trong gia đình hầu như do một tay người phụ nữ mà nên.
3.2 Uống nước nhớ nguồn
Đạo Mẫu cũng thể hiện một ý thức nhân sinh, ý thức cội nguồn dân tộc, lòng yêu nước, tôn vinh đạo đức… đã được linh thiêng hóa mà Mẫu chính là biểu tượng cao nhất.
Đạo Mẫu hướng con người đến lối sống lương thiện, biết ơn nguồn gốc, uống nước nhớ nguồn khi thờ cả các anh hùng dân tộc được linh thánh hóa và tìm kiếm sự bình an trong tâm hồn thông qua thờ phụng.
Điện thần Đạo Mẫu bao gồm nhiều nhân vật lịch sử có công dựng nước và giữ nước, biến tín ngưỡng thành một hình thức chủ nghĩa yêu nước tâm linh hóa.
3.3 Mang giá trị văn hoá, nghệ thuật
Trong quá trình hình thành, phát triển của Đạo Mẫu có hàng trăm bài văn chầu được dân gian sáng tác.
Đạo Mẫu sở hữu hình thức diễn xướng riêng, bắt nguồn từ dân gian hết sức độc đáo, mang màu sắc riêng, không bị trộn lẫn với bất cứ hình thức diễn xướng nào.
Nét đặc trưng của hình thức diễn xướng này là hát chầu văn. Tự bao đời, dân gian đã sáng tạo nên hàng chục điệu chầu khác nhau như Bỉ, Miễu, Thống, Phú, Dọc, Cờn, Xá…
Nét đặc trưng của hình thức diễn xướng này là hát chầu văn. Tự bao đời, dân gian đã sáng tạo nên hàng chục điệu chầu khác nhau như Bỉ, Miễu, Thống, Phú, Dọc, Cờn, Xá…
Từ đó mà duy trì những giá trị văn hoá, nghệ thuật mà ít có tín ngưỡng nào có được gồm: văn học dân gian, nghệ thuật diễn xướng (hát, múa, nhạc), tạo hình.
Các bài văn chầu được xem là những truyền thuyết bằng thơ, thường có hàng trăm câu với nội dung mô tả cảnh tình, ca ngợi công đức, răn dạy người đời.
Các bài văn chầu được xem là những truyền thuyết bằng thơ, thường có hàng trăm câu với nội dung mô tả cảnh tình, ca ngợi công đức, răn dạy người đời.


