(Lichngaytot.com) Người đời thường chỉ biết phóng sinh làm việc thiện để tích công đức, mà không biết rằng hành vi lương thiện sai lầm chẳng những không có chút công đức nào, ngược lại còn kết ác duyên cho bản thân, rước họa về sau.
Tại sao có những người tâm tính lương thiện, chăm chỉ làm lụng, rộng tích phúc đức nhưng gia đạo lại sa sút, tai họa liên miên? Tại sao có những người hay phóng sinh làm việc thiện, ngược lại lại chuốc lấy bệnh tật quấn thân, vận rủi không dứt? Bạn đã bao giờ ngước nhìn trời cao, tự hỏi số phận, tại sao lòng tốt của mình lại không đổi lấy phúc báo xứng đáng?
Sách cổ có ghi: "Họa phúc vô môn, duy nhân tự triệu, thiện ác chi báo, như ảnh tùy hình." Ý câu này là, tai họa hay phúc đức của một người không phải tự nhiên mà đến, tất cả đều do bản thân tự chiêu cảm lấy. Thiện có thiện báo, ác có ác báo, giống như hình với bóng, chưa bao giờ vắng mặt.
Thế nhưng người đời thường chỉ biết làm việc thiện có công đức, mà không biết rằng hành vi lương thiện sai lầm, chẳng những không có chút công đức nào, ngược lại còn kết ác duyên cho bản thân, rước họa về sau.
Đặc biệt là trong việc phóng sinh, có những điều kiêng kỵ không phải ai cũng biết, không phải tất cả sinh linh cứ thả đi là xong chuyện.
Bậc tiền bối thường nói, có những thứ bạn thả chúng đi chính là thả trôi phúc khí của mình, rước tai họa về nhà. Câu nói này, Thẩm Tu Văn, đại gia tơ lụa thành Hà Dương thời cổ xưa, phải mất nửa đời người mới ngộ ra được.
1. Câu chuyện phóng sinh gặp tai ương
Thẩm Tu Văn vốn là một thương nhân tơ lụa giàu có bậc nhất thành Hà Dương, người có lòng tin vào số mệnh và luôn nuôi sở thích phóng sinh để tích đức cho con cháu đời sau.
Trong một buổi chiều ở bến tàu, bị thu hút bởi một con rùa khổng lồ mang hoa văn kỳ lạ tựa tinh vân, ông đã không tiếc bỏ ra 50 lượng bạc trắng để mua lại và thả nó về sông với mong muốn cầu xin may mắn cho chuyến buôn Nam Dương sắp tới.
Thế nhưng, sau cuộc phóng sinh mà ông hằng ngỡ là công đức vô lượng ấy, một chuỗi tai họa khôn lường đột ngột ập xuống Thẩm gia.
Chuyến tàu buôn Phúc Hải chứa toàn bộ gia sản của ông gặp bão dữ và bị nhấn chìm ngoài biển khơi, đẩy ông vào cảnh trắng tay, nợ nần chồng chất.
Giữa lúc nợ nần bủa vây, người vợ kết tóc se tơ của ông lại mắc phải căn bệnh lạ, ngày một nguy kịch.
Lâm vào bước đường cùng, Thẩm Tu Văn mất hết hy vọng và định gieo mình xuống dòng sông hộ thành tự vẫn.
Ngay vào khoảnh khắc định mệnh đó, ông đã gặp thiền sư Liễu Trần. Vị sư già đã chỉ ra một sự thật nghiệt ngã về nhân quả: con rùa mà ông phóng sinh năm xưa không phải phàm vật, mà chính là "Trấn Hà Huyền Quy, linh vật gánh vác sứ mệnh trấn giữ mạch nước ổn định cho cả một vùng.
Việc Thẩm Tu Văn tự ý can thiệp vào mệnh trời, mang rùa ra nơi bến tàu ồn ào rồi thả cách xa linh huyệt trú ngụ cả trăm dặm đã làm kinh động đến linh thể, khiến phong thủy đại loạn.
Đây chính là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến trận bão làm chìm tàu buôn và làm tiêu tán hoàn toàn gia vận của ông.
Thấu hiểu lỗi lầm, Thẩm Tu Văn quyết định bước vào con đường chuộc lỗi đầy gian nan.
Ông bán đi những mảnh tài sản cuối cùng, chấp nhận sự sỉ vả và ghẻ lạnh để đến từng nhà của hơn 20 thủy thủ tử nạn dập đầu tạ tội và hỗ trợ gia nhân của họ sống tiếp.
Sau đó, ông lui về sống cảnh thanh bần dưới một mái lều rách, tự tay khuân từng viên gạch phế phẩm để xây dựng lại ngôi miếu Hà Thần bị bỏ hoang bên bờ sông.
Nhờ sự thành tâm hối cải và những hành động thiện lương để bù đắp sai lầm, khí vận của gia đình ông dần tụ lại, người vợ dần khỏi bệnh và cuộc sống của gia đình ông tìm lại được sự bình yên đích thực.
Xem thêm: Phóng sinh xuất phát từ tâm hưởng phước lành
Xem thêm: Phóng sinh xuất phát từ tâm hưởng phước lành
2. 7 loại sinh linh không được tùy ý phóng sinh
Trích lời thiền sư Liễu Trần: "Hành vi phóng sinh vốn là để nuôi dưỡng lòng từ bi, là việc tốt. Nhưng người đời đa phần không biết, phóng sinh có những quy tắc rất lớn. Như Lai Phật Tổ từng cảnh thị, có 7 loại sinh linh tuyệt đối không được tùy ý phóng sinh, phóng sai rồi chẳng những không có nửa phần công đức, ngược lại còn phản phệ bản thân, kết xuống ác duyên."
- Loại thứ nhất: Chính là giống như con Huyền Quy kia, gánh vác sứ mệnh thiên địa, là sinh linh bảo hộ một phương. Loại sinh linh này hoặc là linh hồ trong núi, hoặc là bạch lộc trong rừng, hoặc là huyền quy dưới nước. Sự tồn tại của chúng là để duy trì sự cân bằng của một vùng đất, nếu ông cưỡng ép can thiệp chính là phá hoại sự vận hành của thiên đạo, tất sẽ bị phản phệ.
- Loại thứ hai: Là độc vật có tính tình hung dữ, có thể gây hại cho sinh linh khác. Ví dụ như rắn độc, bọ cạp độc, cá ăn thịt người và các loại tương tự. Ông vì lòng từ bi của riêng mình mà thả chúng về rừng núi làng mạc, nếu chúng làm bị thương người khác, hại chết mạng người, món nợ máu này phải tính lên đầu ông.
- Loại thứ ba: Là sinh linh chưa từng sống ngoài thiên nhiên hoang dã, được con người nuôi nhốt từ nhỏ. Ví dụ như những con chim họa mi, vẹt nhốt trong lồng hoặc cá cảnh trong ao/ bể. Chúng từ lâu đã mất đi bản năng kiếm ăn và trốn tránh kẻ thù tự nhiên. Ông thả chúng về với tự nhiên không phải là phóng sinh mà là sát sinh, khiến chúng chết dần chết mòn trong sự bất lực và sợ hãi, oán niệm càng thêm sâu nặng.
- Loại thứ tư: Là sinh linh ngoại lai không hợp với thổ nhưỡng thủy văn bản địa. Một phương thổ nhưỡng nuôi dưỡng một phương con người, cũng nuôi dưỡng một phương sinh linh. Nếu ông mang chim chóc phương Nam thả ra phương Bắc, mang cá nước mặn thả vào nước ngọt, chúng không hợp khí hậu nguồn nước sẽ nhanh chóng chết đi, cũng là tạo nên sát nghiệp.
- Loại thứ năm: Là sinh linh được người khác dùng để hoàn trả nhân quả. Nhân quả thế gian phức tạp, có những sinh linh kiếp trước nợ ai đó, kiếp này hóa làm trâu ngựa chó dê lao dịch cho người đó để trả nợ cũ. Đây là nhân quả của chính chúng. Nếu ông giữa đường ra tay giải cứu chúng chính là ngăn trở sự kết thúc của nhân quả, phần nợ chưa trả xong đó sẽ chuyển dịch sang người ông.
- Loại thứ sáu: Là sinh linh mang theo oán khí, đến để đòi nợ. Có những sinh linh là oan gia trái chủ của ai đó hóa thành, sự xuất hiện của nó là để khiến người đó tán gia bại sản, sinh bệnh, thậm chí gia phá người tan. Nếu ông phát tâm lành cứu nó thì bằng như tiếp nhận món ác duyên này từ tay người khác. Món nợ nó muốn đòi tự nhiên sẽ quay sang đòi ông.
- Loại thứ bảy: Cũng là loại hung hiểm nhất, là sinh linh do tà mị vọng lượng hóa thành. Có những loài yêu tà sẽ hóa thành những con vật nhìn có vẻ đáng thương để dụ dỗ người có tâm thiện cứu giúp mang về nhà. Một khi đã vào được cửa nhà, nó sẽ hút tinh khí thần của con người, làm bại hoại phong thủy gia trạch, cho đến khi gia phá người tan. Ông thả nó chính là thả hổ về rừng, di họa khôn lường.
3. Lời kết
Tương truyền sau này, ngôi miếu Hà Thần ở thành Hà Dương luôn nghi ngút khói hương. Người ta truyền tụng câu chuyện của Thẩm Tu Văn, cũng ghi nhớ 7 loại sinh linh không được tùy ý phóng sinh đó.
Thực ra, Phật gia giảng phóng sinh, bản ý của nó là để nuôi dưỡng lòng từ bi của chúng ta, để chúng ta khi nhìn thấy sự thống khổ của sinh mạng có thể nảy sinh một lòng trắc ẩn không nỡ. Tấm lòng này là vô giá.
Nhưng nếu lòng từ bi này xen tạp quá nhiều tư tâm, công lợi và sự vô tri, thì nó có thể biến thành một lưỡi dao sắc bén làm tổn thương chính mình và người khác.
Cái gọi là "Phúc họa vô môn, duy nhân tự triệu", ta gieo nhân nào thì ắt gặt quả nấy. Một niệm khởi lên thường quyết định xu hướng vận mệnh tương lai của chính ta.
Chúng ta bước đi trên thế gian này, ai lại không khao khát phúc báo? Ai lại không hy vọng người nhà an khang? Nhưng phúc báo thực sự chưa bao giờ có được bằng cách trao đổi, mà là do tu tâm mà có được.
Tu một chữ thanh tịnh, tu một chữ bình đẳng, tu một lòng từ bi không cầu báo đáp. Khi ta không còn chấp trước vào được mất, phúc khí tự nhiên sẽ không mời mà đến.
Đời người tại thế, cuộc phóng sinh lớn nhất chẳng qua là buông tha cho chính mình. Buông tha cho một cái tôi chấp niệm sâu nặng, dục vọng khôn cùng, luôn luôn hướng ngoại cầu danh lợi ấy.