(Lichngaytot.com) Cổ nhân nhìn mặt đoán bệnh thường dựa vào kinh nghiệm lâu năm v ì các màu sắc bất thường xuất hiện trên mặt phần lớn đều là dấu hiệu báo trước bệnh tật.
1. Vì sao cổ nhân có thể nhìn mặt đoán bệnh?
![]() |
Trung y thời cổ đại có thể thông qua nhìn tướng mạo mà biết được nguyên nhân của bệnh vì đó là thước đo sức khỏe thân thể của một người. Người bình thường không hiểu nhưng người có kinh nghiệm biết rằng bên ngoài cũng là biểu hiện của bên trong.
Theo đó, có bốn phương pháp để thầy thuốc thăm khám bệnh, gọi là "Tứ chẩn" gồm "Vọng, Văn, Vấn, Thiết" (Tạm dịch: (nghe, nhìn, hỏi, bắt mạch).
Trong đó, Vọng chính là nhìn thần sắc, nhìn các dấu hiệu trên mặt đoán bệnh bên trong cơ thể, từ đó có thể biết và điều trị kịp thời.
Vọng đứng đầu trong "Tứ chẩn", cho nên nó được đánh giá là rất quan trọng trong chẩn đoán bệnh. Khí sắc của con người chỉ có 10% do trời sinh, 90% còn lại đều có thể thay đổi vì nhiều yếu tố.
Trung y cổ đại nói: "Mười hai kinh mạch, ba trăm sáu mươi nhăm lạc mạch, khí huyết của nó đều tập trung trên mặt" - phần mặt phản ánh tổng hợp tinh thần, khí huyết toàn thân. Nếu khí huyết tràn đầy thì thần thái tươi sắc; khí huyết suy giảm, thiếu thốn thì tinh thần suy sụp.
Vọng đứng đầu trong "Tứ chẩn", cho nên nó được đánh giá là rất quan trọng trong chẩn đoán bệnh. Khí sắc của con người chỉ có 10% do trời sinh, 90% còn lại đều có thể thay đổi vì nhiều yếu tố.
Trung y cổ đại nói: "Mười hai kinh mạch, ba trăm sáu mươi nhăm lạc mạch, khí huyết của nó đều tập trung trên mặt" - phần mặt phản ánh tổng hợp tinh thần, khí huyết toàn thân. Nếu khí huyết tràn đầy thì thần thái tươi sắc; khí huyết suy giảm, thiếu thốn thì tinh thần suy sụp.
Đầu tiên, phải biết quan sát sự thay đổi của làn da trên khuôn mặt. Những màu sắc trên các vùng da trên mặt thay đổi đều có những nguyên nhân ẩn sâu bên trong.
Đông y phân chia màu da thành màu chính, màu phụ (màu khách) và màu bệnh.
- Màu chính là màu da giữ nguyên trong suốt cuộc đời của một người.
- Màu phụ (còn gọi là màu khách), trong đó bao gồm sự thay đổi khuôn mặt do khí hậu, chế độ ăn uống, thay đổi tâm trạng, thể thao, môi trường làm việc,...
Trên cơ sở màu da vàng của người châu Á, một số người thường có màu hơi đen, hơi trắng và hơi vàng, nhưng khi chúng không khỏe mạnh, màu vàng, trắng, đen nguyên bản của da sẽ biến đổi sang vẻ không khỏe mạnh.
Dấu hiệu làn da khỏe:
Dấu hiệu làn da khỏe:
- Có màu vàng thiên về hồng hào, mịn màng và láng bóng.
- Sáng màu là một màu vàng thiên hồng khỏe mạnh.
Nhìn sắc mặt phải chú ý cả hai phương diện là "sắc" và "trạch" (ánh lên). Nói chung, bất luận là màu sắc thế nào, nhưng thấy còn ánh lên sáng sủa, tươi tắn, hớn hở, thì chứng tỏ là biến đổi bệnh lý còn nhẹ, chưa sâu sắc, khí huyết chưa suy.
Nếu sắc mặt u ám, ảm đạm, khô cằn, thì chứng tỏ bệnh tình đã trầm trọng, tinh khí đã tổn thương nặng.
Phương pháp này cần kết hợp với "văn - vọng - vấn - thiết" (nghe, nhìn, hỏi, bắt mạch) để chẩn đoán chính xác. Sắc mặt cũng có thể thay đổi theo cảm xúc hoặc môi trường (khách sắc) chứ không chỉ do bệnh.
Nếu sắc mặt u ám, ảm đạm, khô cằn, thì chứng tỏ bệnh tình đã trầm trọng, tinh khí đã tổn thương nặng.
Phương pháp này cần kết hợp với "văn - vọng - vấn - thiết" (nghe, nhìn, hỏi, bắt mạch) để chẩn đoán chính xác. Sắc mặt cũng có thể thay đổi theo cảm xúc hoặc môi trường (khách sắc) chứ không chỉ do bệnh.
2. Sắc mặt liên quan đến bệnh tật
Y học cổ truyền thực chất là một ngành khoa học dựa trên số liệu quan sát thực tế qua nhiều thế kỷ. Các danh y đã ghi chép và đối chiếu hàng triệu trường hợp: "Khi bệnh nhân có biểu hiện A trên mặt, thì khi thăm khám bên trong thường thấy vấn đề B". Sau một thời gian dài, những quan sát này trở thành bộ quy tắc logic giúp họ đưa ra dự đoán có độ chính xác cao.
Khi có bệnh, sắc mặt hơi có chút thay đổi, gọi là "bệnh sắc". Cụ thể như sau.
Khi có bệnh, sắc mặt hơi có chút thay đổi, gọi là "bệnh sắc". Cụ thể như sau.
Mặt đỏ
Sắc mặt đỏ trong y học (cả Đông y lẫn Tây y) thường là dấu hiệu cho thấy các mạch máu dưới da đang giãn nở hoặc lưu lượng máu tăng cao đột ngột.
Những người có mặt đỏ thường bị hiểu lầm là mặt hồng hảo, khiến nhiều người lầm tưởng mình có tình trạng sức khỏe tốt. Thế nhưng đây có thể là dấu hiệu bệnh về tim, chứng nóng trong, bệnh thương hàn và lao phổi.
Những người có mặt đỏ thường bị hiểu lầm là mặt hồng hảo, khiến nhiều người lầm tưởng mình có tình trạng sức khỏe tốt. Thế nhưng đây có thể là dấu hiệu bệnh về tim, chứng nóng trong, bệnh thương hàn và lao phổi.
Đỏ ở chóp mũi: Có thể liên quan đến tiêu hóa (Tỳ vị nhiệt) hoặc lạm dụng rượu.
Đỏ ở hai bên má: Thường liên quan đến chức năng của Phế (Phổi) hoặc các vấn đề về nội tiết, do nhiệt thấp, hai gò má trên mặt hiện rõ màu ửng đỏ, nhất là về buổi chiều.
Đỏ ở trán: Thường liên quan đến tạng Tâm (huyết áp, tim mạch hoặc căng thẳng thần kinh quá mức).
Những người bị cao huyết áp trên mặt nhiều sắc hồng, khi trúng độc hơi than, trên mặt cũng hiện rõ màu hồng anh đào.
Nếu mặt đỏ rực có kèm theo cả miệng khát, thậm chí co giật thì thường thấy ở những người bệnh có tính sốt cao do cảm nhiễm cấp tính gây nên.
Mặt vàng
Bệnh của ngũ tạng phản ánh qua sắc mặt, thế nên cổ nhân nhìn mặt đoán bệnh, theo đó mặt quá vàng ((trong y học gọi là hoàng đản) báo trước tình trạng không ổn định của tỳ vị, cùng với đó là những dấu hiệu như ăn không ngon, dễ trướng bụng, đi tả thường xuyên, đại tiện loãng.
Cần phân biệt mặt vàng do bị bệnh gây nên với mặt vàng do ăn các thức ăn mà bị. Nếu bạn ăn quá nhiều thực phẩm chứa Beta-carotene như cà rốt, bí đỏ, cam, đu đủ trong thời gian dài, da có thể chuyển vàng (thường rõ nhất ở lòng bàn tay, bàn chân) nhưng lòng trắng mắt vẫn trắng. Tình trạng này sẽ hết khi bạn điều chỉnh lại thực đơn.
Cần phân biệt mặt vàng do bị bệnh gây nên với mặt vàng do ăn các thức ăn mà bị. Nếu bạn ăn quá nhiều thực phẩm chứa Beta-carotene như cà rốt, bí đỏ, cam, đu đủ trong thời gian dài, da có thể chuyển vàng (thường rõ nhất ở lòng bàn tay, bàn chân) nhưng lòng trắng mắt vẫn trắng. Tình trạng này sẽ hết khi bạn điều chỉnh lại thực đơn.
Theo Đông y, màu vàng thuộc hành Thổ, liên quan đến tạng Tỳ (Lách) và Vị (Dạ dày). Sắc vàng được chia thành hai loại chính:
Dương hoàng (Vàng tươi như quả quýt): Thường do thấp nhiệt xâm nhập vào cơ thể. Người bệnh thường có biểu hiện nóng nảy, miệng đắng, nước tiểu vàng sậm.
Âm hoàng (Vàng tối, xỉn màu): Thường do tỳ vị hư hàn hoặc khí huyết ngưng trệ. Người bệnh cảm thấy mệt mỏi, sợ lạnh, tiêu hóa kém, sắc mặt vàng nhưng không có độ bóng (vàng bủng).
Mặt trắng
Người có sắc mặt quá trắng chủ yếu bắt nguồn từ nguyên nhân thiếu máu. Tùy vào sắc thái trắng (trắng bệch, trắng nhợt hay trắng xám), cơ thể đang phát ra những tín hiệu cảnh báo khác nhau.
Trung y cho rằng những người sắc mặt trắng xanh thuộc chứng hư và chứng hàn. Như có một số người sắc mặt tương đối trắng, thể hình béo, Trung y cho rằng những người này là ở thể "khí hư" hoặc "dương hư". Những người này mặc dầu trông cơ thể béo mập, nhưng thể chất tương đối kém rất dễ bị cảm mạo.
Vấn đề về phổi: Các bệnh lý hô hấp mãn tính làm giảm khả năng trao đổi oxy, khiến da mặt không được hồng hào mà chuyển sang màu trắng xám hoặc nhợt nhạt.
Sốc hoặc mất máu cấp tính: Nếu mặt đột ngột trắng bệch đi kèm vã mồ hôi lạnh, đây có thể là dấu hiệu của tình trạng sốc, mất máu trong hoặc hạ đường huyết cực độ.
Mặt tím đen
Sắc mặt tím đen (hay trong Đông y gọi là sắc diện "vô hoa" - mất đi độ bóng khỏe) là một trong những dấu hiệu nghiêm trọng nhất, cảnh báo tình trạng khí huyết ngưng trệ, cơ thể đang thiếu oxy trầm trọng hoặc các cơ quan nội tạng đang gặp vấn đề mãn tính.
Có thể là mãn tính về thận, kèm với đó là các biểu hiện như đầu gối bủn rủn, khả năng tình dục suy giảm, bài tiết nước tiểu thất thường…
Có thể là mãn tính về thận, kèm với đó là các biểu hiện như đầu gối bủn rủn, khả năng tình dục suy giảm, bài tiết nước tiểu thất thường…
Khi bị đau có tính chất co giật ở bộ phận dạ dày hoặc ruột, bị đau giun sán, bị đau quặn ở mật do bệnh ở đường mật gây nên, cũng có thể làm cho sắc mặt tím đen lại.
Trẻ con sốt cao, mặt cũng xuất hiện sắc tím đen thể hiện tương đối rõ ở giữa sống mũi và hai bên lông mày, đó cũng là triệu chứng báo trước sẽ bị trúng gió.
Mặt đen
Mặt đen rất nguy hiểm, là triệu chứng bệnh mãn tính. Cố nhân câu: "Màu đen xuất hiện ở thượng đình to bằng ngón chân cái, tất không ốm mà chết".
"Thượng đình" ở đây chỉ vị trí cao nhất của phần mặt, tức phần trán. Ở chỗ đó mà xuất hiện màu đen thì đó là tín hiệu bệnh tình nguy hiểm, người bệnh thường sẽ suy thoái mòn mỏi mà chết.
"Thượng đình" ở đây chỉ vị trí cao nhất của phần mặt, tức phần trán. Ở chỗ đó mà xuất hiện màu đen thì đó là tín hiệu bệnh tình nguy hiểm, người bệnh thường sẽ suy thoái mòn mỏi mà chết.
Những người bị các chứng bệnh như công năng của màng tuyến thượng thận bị giảm sút, công năng thận mạn tính không toàn vẹn, công năng của tâm phế mạn tính không toàn vẹn, gan bị cứng, bị ung thư gan.. đều có thể xuất hiện màu đen trên sắc mặt. Bệnh tình càng nặng, sắc mặt lại càng đen sạm.
Màu xanh
Trung Y cho rằng, gan là cơ quan phản ánh tâm tình của con người. Do đó, những người có sắc xanh trên mặt đa số đều nóng nảy, dễ cáu, cần đề phòng các chứng bệnh về gan.
Màu sắc xanh tím trên mặt rất có thể là dấu hiệu của việc máu bị ứ đọng, thiếu dưỡng khí, dễ sinh ra cảm giác đau nhức hoặc nguy cơ đột tử bất ngờ.
Nếu bỏ qua các dấu hiệu này, cơ thể của chúng ta dễ xuất hiện các tình trạng béo giả hoặc bệnh vàng da.
Những người bị bệnh lao ở thời kỳ cuối, bị sưng phổi và khí quản, bị viêm nhánh khí quản mạn tính và bị viêm phổi rất nghiêm trọng, thì sắc mặt cũng thường xanh xám.
Ngoài ra, khi nén chịu đau nặng ở một bộ phận nào đó trong người, sắc mặt cũng có thể thấp thoáng xuất hiện những nét xanh tái.
Tham khảo: Cổ nhân nhắc nhở: 5 không quá ở tuổi trung niên để sống lâu bên con cháu
3. Từ màu sắc khác nhau của các vị trí trên mặt
3.1 Bệnh phổi - giữa hai lông mày
Khoảng cách giữa hai chân mày được gọi là “ấn đường”. Vị trí này xuất hiện màu đen đồng nghĩa với cơ thể đang mắc những căn bệnh nguy hiểm; màu đỏ là phổi nóng; màu trắng bệch là máu hư, khí hư; màu xanh là máu bị ứ đọng.
Tuy nhiên nếu nó đỏ lên cũng không tốt, có thể là dấu hiệu cảnh báo bệnh phổi nhiệt/nóng.
Còn khi vùng này chuyển sang màu trắng nhợt nhạt thì đó là dấu hiệu của huyết hư hoặc khí hư. Khi ấn đường có màu xanh xao thì là dấu hiệu của bệnh về máu ứ.
3.2 Bệnh tim - giữa hai mắt
Mắt (thuộc Can - Gan): Độ sáng của mắt, màu sắc lòng trắng hay các tia máu có thể phản ánh chức năng gan và tình trạng thần kinh.
Màu sắc giữa hai mắt quá đỏ báo trước tình trạng tim nóng, dễ xuất hiện các biểu hiện như phiền muộn, bực dọc, thần kinh không ổn định.
Giữa hai mắt xuất hiện màu xanh tím là biểu hiện của máu ứ đọng hoặc các bệnh về động mạch vành.
Đỏ quá mức có nghĩa là tim quá nóng, có thể gây khó chịu, mất ngủ và thậm chí là thần kinh. Nếu một màu xanh tím xuất hiện giữa hai mắt, điều đó có nghĩa là ứ máu, có thể do bệnh tim mạch vành gây ra.
Đỏ quá mức có nghĩa là tim quá nóng, có thể gây khó chịu, mất ngủ và thậm chí là thần kinh. Nếu một màu xanh tím xuất hiện giữa hai mắt, điều đó có nghĩa là ứ máu, có thể do bệnh tim mạch vành gây ra.
3.3 Bệnh gan nhìn - sống mũi
Mũi (thuộc Phế - Phổi): Cánh mũi phập phồng hay màu sắc ở chóp mũi thường liên quan đến hệ hô hấp.
Sống mũi ửng đỏ là biểu hiện của gan nóng. Vị trí này xuất hiện màu đen xanh lại là dấu hiệu của những căn bệnh nguy hiểm như xơ cứng gan hay ung thư gan.
Nếu điểm cao nhất của xương sống mũi có màu đỏ, đó có thể là bệnh nóng trong gan, biểu hiện là khó chịu, mắt đỏ, tăng kinh nguyệt,... Nếu có sự xuất hiện của màu xanh và đen ở sống mũi có thể là xơ gan hoặc ung thư gan.
3.4 Bệnh túi mật và tuyến tụy - hai bên sống mũi
Bên phải sống mũi: Phản ánh tình trạng của mật. Vị trí này xuất hiện màu đỏ là dấu hiệu của chứng nóng trong, dễ đi kèm triệu chứng buồn nôn, nôn mửa; màu đen, xám nâu lại là biểu hiện của bệnh giun đũa. Nếu có màu nhợt nhạt bên sống mũi phải, bạn sẽ có cảm giác yếu ớt, mệt mỏi thiếu sức sống, rất dễ sợ hãi, lo lắng.
Bên trái sống mũi: Phản ánh tuyến tụy, vị trí này có màu tái nhợt là do tuyến tụy bị hư hàn và phụ nữ dễ bị nặng ở vùng eo và bụng. Khi da có màu xanh hoặc vàng hơn thì tụy và dạ dày bất ổn, thường xuyên có cảm giác bị khó tiêu, chán ăn, trào ngược.
Bên trái sống mũi: Phản ánh tuyến tụy, vị trí này có màu tái nhợt là do tuyến tụy bị hư hàn và phụ nữ dễ bị nặng ở vùng eo và bụng. Khi da có màu xanh hoặc vàng hơn thì tụy và dạ dày bất ổn, thường xuyên có cảm giác bị khó tiêu, chán ăn, trào ngược.
3.5 Bệnh lá lách - đỉnh mũi
Chóp mũi đỏ là dấu hiệu của tỳ vị phát nhiệt hoặc bệnh tiểu đường.
- Chóp mũi trắng bệch phản ánh tình trạng khí hư, màu xanh là biểu hiện của máu ứ đọng, khí trệ.
- Chóp/đỉnh mũi có màu đỏ có nghĩa là lá lách và dạ dày có hội chứng nóng. Bạn có thể bị rơi vào cảm giác bị thèm ăn, muốn ăn nhiều, vừa ăn xong đã cảm thấy đói. Thậm chí khi có đỉnh mũi đỏ còn có thể là dấu hiệu của bệnh tiểu đường/đái tháo đường.
- Chóp mũi có màu xanh xao thì có thể là ứ đọng máu và khí hư, cũng có thể là đau bụng.
3.6 Bệnh dạ dày - cánh mũi
Bạn hãy thường xuyên quan sát màu sắc da ở hai bên cánh mũi, nếu nó nhạt và không có vẻ bóng láng, đó là dấu hiệu của chức năng tiêu hóa giảm, hầu hết trong số những người có cánh mũi màu nhợt nhạt sẽ có cảm giác chán ăn và đầy hơi sau bữa ăn.
- Cánh mũi có màu trắng báo trước tình trạng rối loạn tiêu hóa, đi kèm với các triệu chứng như chán ăn, đầy hơi.
- Cánh mũi màu đỏ nhạt và khô là thiếu chất lỏng trong dạ dày, thường là khô miệng và nứt môi, và dấu hiệu đi kèm là phân khô.
- Cánh mũi xuất hiện màu quá đỏ đồng nghĩa với việc dạ dày bị nóng, xuất hiện tình trạng hơi thở hôi và sưng nướu.
3.7 Bệnh thận - cả hai má
Nếu hai má sáng sủa, láng mịn thì không có gì phải lo, nhưng nếu có màu đỏ lại dấu hiệu của bệnh nặng.
Thận có màu chủ đạo là màu đen. Nếu vùng dưới má hoặc quanh quầng mắt có màu đen xỉn, tối tăm (không phải do bẩm sinh), đó thường là dấu hiệu của Thận hư hoặc thận đang phải làm việc quá tải.
Nếu hai má trông căng mọng bất thường nhưng thiếu độ đàn hồi (ấn vào thấy lõm lâu mới đầy lên), đây là dấu hiệu của Thận dương hư, không chuyển hóa được nước (thủy thũng).
8. Bệnh tử cung và tuyến tiền liệt - nhân trung
Nhân trung (rãnh nhỏ nằm dưới mũi và trên môi trên) phản ánh sự thông suốt của khí huyết và đặc biệt là sức khỏe của hệ sinh dục, tiết niệu.
Đây là nơi hội tụ của các mạch quan trọng, nên nó phản ánh trực tiếp tình trạng của tử cung (ở nữ giới) và tuyến tiền liệt (ở nam giới).
Màu trắng thì có nghĩa là bạn đang bị huyết hư, khí hư. Màu vàng thì lá lách hư, còn màu đỏ thì bị nhiệt, cơ thể nóng trong. Triệu chứng có thể xảy ra ở phụ nữ chính là viêm nhiễm tử cung, nam giới có thể có vấn đề về viêm tuyến tiền liệt.
Màu trắng thì có nghĩa là bạn đang bị huyết hư, khí hư. Màu vàng thì lá lách hư, còn màu đỏ thì bị nhiệt, cơ thể nóng trong. Triệu chứng có thể xảy ra ở phụ nữ chính là viêm nhiễm tử cung, nam giới có thể có vấn đề về viêm tuyến tiền liệt.
Màu xanh hoặc đen là hội chứng lạnh, sẽ có đau dữ dội hoặc có vấn đề liên quan đến ung thư
Xem thêm tin liên quan cùng chuyên mục:
Xem thêm tin liên quan cùng chuyên mục:

